BÀI TUYÊN TRUYỀN: Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực tháng 01 và tháng 02 năm 2026
1. Các trường hợp được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp từ 01/01/2026
Chính phủ ban hành Nghị định số292/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 216/2025/QH15 ngày 26/6/2025 của Quốc hội về việc kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Theo Nghị định, các đối
tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 1
Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử
dụng đất nông nghiệp (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
28/2016/QH14 ngày 11/11/2016 của Quốc hội), cụ thể như sau:
1. Miễn thuế sử dụng đất
nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản
xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm theo quy định của pháp luật
về đất đai; diện tích đất làm muối.
2. Miễn thuế sử dụng đất
nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc
công nhận quyền sử dụng đất cho hộ nghèo.
3. Miễn thuế sử dụng đất
nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp cho các đối tượng sau
đây:
a) Hộ gia đình, cá nhân
được Nhà nước giao, công nhận quyền sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, nhận
chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả nhận thừa kế, tặng cho quyền
sử dụng đất nông nghiệp).
b) Hộ gia đình, cá nhân
là thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; hộ gia
đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã,
liên hiệp hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh và hộ gia
đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nhận đất giao khoán ổn định của công ty nông,
lâm nghiệp để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.
c) Hộ gia đình, cá nhân
sản xuất nông nghiệp góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật
Hợp tác xã.
4. Miễn thuế sử dụng đất
nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho tổ chức
kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang trực tiếp sử dụng đất để sản
xuất nông nghiệp.
Đối với diện tích đất
nông nghiệp mà Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn
vị khác đang quản lý nhưng không trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp
mà giao cho tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông
nghiệp thì thực hiện thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai; trong thời gian
Nhà nước chưa thu hồi đất thì phải nộp 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Quy định trên được thực
hiện từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2030.

2. Sử dụng đất không đúng
mục đích gây lãng phí có thể bị xử lý hình sự
Thông tư liên
tịch số 11/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BQP-BTP-BTC-BCT-BXD-BNN&MT-
KTNN-TTCP hướng dẫn việc xác định lãng phí để áp dụng trong khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử các tội phạm liên quan đến lãng phí theo quy định của Bộ luật
Hình sự, trong đó có các dấu hiệu vi phạm về đất đai.
Theo Điều 8 của Thông tư
này, những dấu hiệu vi phạm trong quản lý, khai thác, sử dụng đất đai và các
tài nguyên khác có khả năng gây lãng phí, bao gồm:
Quy hoạch đất đai và quy hoạch các tài nguyên khác không đúng pháp luật gây
lãng phí; Gây ô nhiễm, hủy hoại tài nguyên, năng lượng quốc gia gây lãng phí;
Giao đất, giao rừng, cho thuê đất, cho thuê rừng, thu hồi đất, thu hồi rừng,
cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, sử dụng rừng không đúng đối tượng hoặc
không đúng thẩm quyền, không phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, sử dụng
rừng đã được phê duyệt.
Giao đất, cho thuê đất,
chuyển mục đích sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước;
không thực hiện đấu giá, đấu thầu theo quy định đối với trường hợp giao đất,
cho thuê đất phải đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư; chậm
thực hiện các thủ tục theo quy định để xác định giá đất, dẫn đến chậm hoặc
không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước gây lãng phí;
Sử dụng đất không đúng
mục đích đã được nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; đất
không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất
trên thực địa hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong
dự án đầu tư; không thực hiện đúng thời hạn trả lại đất theo quyết định thu hồi
đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây lãng phí;
Cố ý trì hoãn, chậm giải
phóng mặt bằng, triển khai thực hiện dự án so với tiến độ đã được phê duyệt;
thực hiện dự án, khởi công công trình trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt; thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư không đúng quy định gây
lãng phí; Quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc phê duyệt dự án đầu
tư xây dựng nhà ở không phù hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy
hoạch đô thị và nông thôn, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê
duyệt gây lãng phí;
Cấp phép, thăm dò, khai
thác tài nguyên không đúng quy định, thẩm quyền, đối tượng, không phù hợp với
quy hoạch, kế hoạch và kết quả phê duyệt trữ lượng của cơ quan có thẩm quyền;
tổ chức hoạt động khoáng sản không đúng với nội dung giấy phép hoạt động khoáng
sản đã cấp; khai thác, chế biến tài nguyên gây ô nhiễm và suy thoái nguồn nước,
môi trường gây lãng phí.
Thông tư liên tịch có hiệu lực từ ngày 25/01/2026.
3. Kinh doanh mua, bán
vàng miếng nhưng không có giấy phép có thể bị tịch thu vàng
Đây là quy định tại Nghị
định 340/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, có hiệu lực từ ngày
09/02/2026.
Theo đó, phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi vi phạm sau đây:
(i) Sản xuất, kinh doanh
mua, bán vàng miếng nhưng không có giấy phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng
miếng;
(ii) Thực hiện xuất khẩu
hoặc nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật;
(iii) Hoạt động kinh
doanh vàng khác khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của
pháp luật.
Ngoài ra, còn có thêm
hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu số vàng đối với hành vi vi phạm quy định
trên.
Lưu ý: Quy định trên chỉ
điều chỉnh hành vi kinh doanh, mua bán vàng miếng trái phép, không
điều chỉnh quyền sỡ hữu vàng của người dân, theo đó người dân nếu sở hữu vàng
hợp pháp, tích trữ vàng, không thực hiện hành vi mua bán trái phép thì không
thuộc đối tượng bị xử lý.
Người dân mua
vàng miếng tại các cửa hàng, doanh nghiệp đã được Ngân hàng Nhà nước cấp phép
vẫn hoàn toàn hợp pháp và không bị ảnh hưởng bởi quy định trên.
Cũng tại Nghị định 340/2025/NĐ-CP, Chính phủ cũng đã sửa đổi, bổ sung
nhiều quy định mới về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng từ
ngày 09/02/2026, đơn cử như:
- Mua bán cho
thuê tài khoản ngân hàng bị phạt đến 200 triệu đồng;
- Mua bán, cho
thuê ví điện tử có thể bị phạt tới 120 triệu đồng;
- Mở tài khoản
thanh toán mạo danh có thể bị phạt đến 250 triệu đồng.
Cùng nhiều quy
định khác, xem thêm chi tiết tại Nghị định 340/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 09/02/2026.
CTV: Ng
Duyên CC Văn phòng HĐND và UBND